Virus HBV có thể lây nhiễm từ mẹ sang con qua đường rau thai và đường máu, có thể bùng phát những đợt viêm gan cấp cho cả mẹ và con gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng của cả mẹ và con.

viêm gan B có ảnh hưởng nhất định đến thai kỳ

I. Ảnh hưởng của HBV lên thai kỳ

Viêm gan siêu vi B là bệnh viêm gan gây ra do virus HBV. Bệnh có 2 thể viêm gan cấp tính và mạn tính. Cả 2 thể đều có thể gây những ảnh hưởng nhất định đến thai kỳ.

1.1 Ảnh hưởng của viêm gan B cấp lên thai kỳ 

Viêm gan B cấp là nguyên nhân phổ biến nhất của vàng da trong thai kỳ (các nguyên nhân khác bao gồm các bệnh gan cấp tính liên quan đến thai kỳ như gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ, HELLP và ứ mật trong gan của thai kỳ).

Việc nuôi dưỡng thai nhi sẽ ảnh hưởng, trước hết là quá trình hấp thụ dinh dưỡng, nhiễm HBV cấp tính trong thai kỳ có nguy cơ làm tăng tỷ lệ thấp cân khi sinh và sinh non ở trẻ. 

Đồng thời, nhiễm HBV cấp tính xảy ra sớm trong thai kỳ có liên quan đến  tỷ lệ lây truyền chu sinh khoảng 10%, tỷ lệ tăng lên đáng kể nếu nhiễm trùng cấp tính xảy ra vào gần khi sinh lên tới  khoảng 60%.

Nhiễm virus HBV cấp trong thai kỳ thường không nghiêm trọng và không liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong hoặc tăng khả năng sinh quái thai. Bởi vậy, nhiễm HBV trong thai kỳ không cần phải cân nhắc đình chỉ thai nghén. 

1.2. Ảnh hưởng của viêm gan B mạn lên thai kỳ

Phụ nữ nhiễm viêm gan B mạn không có bệnh gan tiến triển thường dung nạp tốt việc mang thai. Tuy nhiên, bệnh nhân đôi khi xuất hiện đợt bùng phát viêm gan. Nếu người mẹ tái phát các đợt viêm gan cấp sẽ dẫn đến tình trạng chức năng gan bị suy giảm nhiều hơn, có thể dẫn đến biến chứng nặng nhất của viêm gan là:

+ Teo gan.

+ Mất các yếu tố đông máu, hoặc làm cho băng huyết không cầm được khi sảy thai hoặc trong quá trình chuyển dạ sinh đẻ. 

+ Mất khả năng chống độc nên dẫn đến hôn mê do nhiễm độc gan.

Cần theo dõi sát những người mẹ có HBsAg dương tính. Nên xét nghiệm sinh hóa gan 3 tháng/lần khi mang thai và 6 tháng/lần sau khi sinh. Có thể xét nghiệm HBV DNA đồng thời hoặc khi có ALT tăng.

II. Các xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B trong thai nghén

–  Anti-HBc IgG và anti HBs: Tiền sử có nhiễm HBV đã khỏi.

– Anti-HBc IgG và HbsAg: Nhiễm HBV mạn tính.

– Các xét nghiệm sinh hóa, huyết học: ALT, AST, men gan, Bilirubin, Creatinin, Albumin máu, công thức máu, đông máu cơ bản

– Siêu âm gan: phát hiện tính chất, kích thước của gan, tình trạng xơ gan, chẩn đoán loại trừ u gan.

III. Những điểm cần lưu ý khi tiếp cận bà mẹ có nhiễm HBV

Tư vấn đầy đủ cho bà mẹ: 

Viên gan B lây truyền từ mẹ sang con có thể được ngăn chặn hiệu quả. Đó là tỉ lệ ngăn ngừa thành công lây nhiễm từ người mẹ bị nhiễm viêm gan B sang con đạt trên 90%.

Nhiễm HBV cấp tính trong khi mang thai thường là không nghiêm trọng và không liên quan với tăng tỷ lệ tử vong hoặc sinh quái thai. Chủng ngừa thụ động – chủ động ngay lúc mới sinh làm giảm tỉ lệ lây nhiễm HBV chu sinh.

Trong quá trình mang thai, sản phụ cần thường xuyên kiểm tra tình trạng bệnh, thực hiện các xét nghiệm liên quan đến bệnh viêm gan B. Việc sử dụng thuốc hay bất kỳ tác động nào cũng cần tuân thủ theo chỉ dẫn của bác sĩ. Thai phụ không nên tự ý sử dụng thuốc bừa bãi có thể gây hại cho sức khỏe.

Bà mẹ nhiễm HBV có thể nuôi con bú mẹ một cách an toàn.

Đối với phụ nữ đã chủng ngừa vaccine, kiểm tra kết quả xét nghiệm kháng thể anti-HBS:

+ > 500 mUI/ml: an toàn.

+ 200 – 500 mUI/ml: tiêm nhắc lại sau 5 năm.

+ 10 – 200 mUI/ml: theo dõi anti-HBs hằng năm, tiêm nhắc lại sớm.

+ < 10 mUI/ml: tiêm lại từ đầu.

Khi nhiễm virus HBV trong thời kỳ mang thai có thể gây ra những hậu quả cực kỳ nghiệm trọng đến mẹ hoặc cả hai mẹ con, vì vậy những người đã bị nhiễm virus này, trong thời kỳ mang thai cần phải đi khám đinh kỳ để phát hiện những tổn thương gan trong thời gian này và được tư vấn để phòng lây nhiễm cho con sau khi sinh.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây